CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 51 NĂM CHIẾN THẮNG XUÂN LỘC GIẢI PHÓNG LONG KHÁNH (21/4/1975-21/4/2026) VÀ GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975)

Kết quả đạt được và hạn chế trong xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam thời gian qua

Thứ năm - 22/10/2026 11:04  20 Lượt xem
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
Trải qua gần 40 năm song hành với quá trình đổi mới đất nước, việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đạt được những kết quả nổi bật.

Một là, từng bước hoàn thiện các chính sách, pháp luật về văn hóa. Từ năm 1986 đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về lĩnh vực văn hóa ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, mở rộng và cập nhật, đáp ứng tốt những đòi hỏi mà thực tiễn đặt ra, bảo đảm vai trò định hướng, dẫn dắt công cuộc phát triển văn hóa ở nước ta. Về văn hóa, văn nghệ, có nhiều chính sách được ban hành(9). Về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, từ năm 1990 đến nay, có trên 30 văn bản quy phạm pháp luật về các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời sửa đổi các điều luật quy định về quyền hạn và trách nhiệm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo của người dân(10). Về di sản văn hóa, Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2024) có nhiều bước tiến nhằm thích ứng với bối cảnh xã hội đương đại.

Ảnh : Minh họa

Bên cạnh đó, nhiều chính sách liên quan đến vấn đề văn hóa cũng được quan tâm, như: Lĩnh vực văn hóa gia đình (Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020, Chỉ thị số 11/CT-TTg, ngày 29-3-2017, về “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; Văn hóa đọc (Quyết định số 329/QĐ-TTg, ngày 15-3-2017, phê duyệt Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng 2030); Công nghiệp văn hóa (CNVH),… Song song với việc xây dựng và triển khai các chính sách, việc bổ sung, sửa đổi kịp thời các văn bản luật phù hợp hơn với tình hình mới là một thành công rất đáng ghi nhận, trong đó có văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực khác nhau của văn hóa(11).

Ảnh : Minh họa

Hai là, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Việc thành lập cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và lấy ngày 28-6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam đã khẳng định vai trò của gia đình đối với phát triển xã hội. Bên cạnh đó, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam qua các giai đoạn (2012 - 2020; 2022 - 2030) đã đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống trong gia đình, tôn vinh vai trò của gia đình. Môi trường văn hóa ở các trường học, địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp... được đẩy mạnh, với các phong trào xây dựng văn hóa học đường, văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa nơi công cộng, xây dựng hương ước, quy ước,… được triển khai hiệu quả, tạo ra những thói quen văn hóa từ trong gia đình đến nơi làm việc, học tập, sinh hoạt. Ngành văn hóa triển khai thực hiện sâu rộng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên khắp cả nước, tạo sự lan tỏa, góp phần xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, làng, xã đến các cấp, các ngành. Việc xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và tổ chức lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống các thiết chế văn hóa, như trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng truyền thống, bảo tàng, rạp chiếu phim, công viên văn hóa, sân vận động, tượng đài, quảng trường, các công trình kiến trúc văn hóa,… cơ bản đảm nhiệm tốt nhiệm vụ là không gian cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần cho người dân ở khắp các vùng, miền trên cả nước. Việc xây dựng, bồi đắp đạo đức, nhân cách tốt đẹp cho con người được thực hiện trong toàn xã hội qua cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phong trào xây dựng gương người tốt, việc tốt, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, các phong trào từ thiện, nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa,… tạo nên hiệu ứng xã hội sâu rộng và giá trị nhân văn sâu sắc.

Ba là, đề cao vai trò của văn hóa trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn hóa ngày càng thấm sâu, được nhìn nhận đúng vai trò trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Các khía cạnh văn hóa trong kinh tế, chính trị, trong truyền thông, giáo dục, y tế, văn hóa trong bệnh viện, trường học, công sở, doanh nghiệp,… được chú trọng. Văn hóa được gắn với rất nhiều lĩnh vực trong xã hội, như văn hóa đọc, văn hóa giao thông, văn hóa đường phố, văn hóa kinh doanh, văn hóa trà, văn hóa miệt vườn, văn hóa học đường… Trong những năm qua, văn hóa trong chính trị đã được cả xã hội quan tâm, với các cụm từ “văn hóa trong Đảng”, “văn hóa lãnh đạo”, “văn hóa quản lý”, “văn hóa chính trị”, “văn hóa từ chức”… trở nên quen thuộc và trở thành mục tiêu trong các phong trào đổi mới và xây dựng môi trường văn hóa trong cả xã hội. Xã hội ngày càng nhận thức rõ rằng, không thể phát triển kinh tế bằng mọi giá mà cần phát triển kinh tế một cách hài hòa, bền vững, phát triển kinh tế đã gắn với định hướng, mục tiêu văn hóa. Việc phổ biến và xây dựng các loại hình văn hóa, như “văn hóa lao động”, “văn hóa sản xuất”, “văn hóa kinh doanh”, “văn hóa doanh nghiệp”, “văn hóa doanh nhân”, văn hóa trong sử dụng dịch vụ, văn hóa trong khai thác tài nguyên thiên nhiên,… đạt được thành công nhất định cả trên phương diện nhận thức và thực hành. Các sản phẩm kinh tế gắn chặt với những giá trị nhân văn, giá trị đạo đức ngày càng xuất hiện nhiều và được xã hội coi trọng. Hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm kinh tế được người dân quan tâm.

Bốn là, phát triển đa dạng loại hình văn học, nghệ thuật. Sáng tác văn học ngày càng phong phú, đa dạng ghi nhận đời sống văn hóa xã hội một cách đa diện, kịp thời phản ánh những hiện thực mới, sự chuyển động của đời sống xã hội và đất nước. Trong bối cảnh xã hội đương đại, dòng văn học đại chúng, văn học phi hư cấu (tự truyện, hồi ký, du ký, tùy bút, tản văn,…) phát triển. Đời sống văn học từ sau đổi mới trở nên sôi động và đa dạng hơn trước.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, từ sau năm 1986, nghệ thuật biểu diễn dân gian được tôn vinh, được xem như đại diện cho bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa vùng, miền và chuyển tải những giá trị truyền thống. Nhiều thể loại nghệ thuật biểu diễn dân gian được ghi danh, được tái tạo, phục hồi và phát triển mạnh trong đời sống hằng ngày, trong các lễ hội dân gian và cả trên các phương tiện truyền thông xã hội. Các câu lạc bộ biểu diễn nghệ thuật quần chúng, đội văn nghệ, hội diễn văn nghệ các cấp huy động được nhiều đối tượng, thành phần tham gia, tạo nên phong trào biểu diễn nghệ thuật sâu và rộng, làm giàu thêm đời sống tinh thần của đông đảo nhân dân. Bên cạnh đó, nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp có nhiều cơ hội để phát triển. Hệ thống các trường đào tạo nghệ thuật biểu diễn được nâng cấp, đội ngũ sáng tác có nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước.

Trong lĩnh vực mỹ thuật, các nghệ sĩ đã định hình một số xu hướng sáng tác mới, như nghệ thuật trình diễn (Perfomance), nghệ thuật sắp đặt (Instalation), Video Art, Multi Media… làm phong phú thêm các hình thức sáng tác và hưởng thụ nghệ thuật. Xu hướng về nguồn được đề cao, nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật hướng đến các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, một số bộ môn nghệ thuật truyền thống được hồi sinh. Nhiều tác phẩm mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh nhận được giải thưởng cao trong nước và quốc tế, nhiều triển lãm về các loại hình văn hóa, nghệ thuật được tổ chức và thu hút sự quan tâm của công chúng cả trong nước và nước ngoài.

Năm là, sự phục hồi và phát triển của các thực hành tín ngưỡng, lễ hội. Theo ước tính, cả nước có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 54 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự(12). Những con số này phần nào thể hiện nhu cầu tín ngưỡng đa dạng của con người trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, hiện đại và hội nhập. Xu hướng thế tục hóa tín ngưỡng, tôn giáo cũng trở nên phổ biến, thể hiện ở sự thay đổi cách thức thực hành tín ngưỡng, chú trọng đến các hoạt động phục vụ xã hội. Quá trình phục hồi một cách mạnh mẽ các thực hành tín ngưỡng, cơ sở thờ tự trong khoảng hơn ba thập niên trở lại đây đã góp phần thúc đẩy sự hồi sinh, phát triển của nhiều lễ hội ở Việt Nam, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong văn hóa du lịch.

Sáu là, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa. Sau 40 năm đổi mới đất nước, nhận thức về nội hàm khái niệm “di sản văn hóa” và “phát triển” cũng như mối quan hệ giữa hai khái niệm này có sự thay đổi. Mối quan hệ giữa “di sản văn hóa” và “phát triển” đã được nhìn nhận một cách tích cực và ngày càng gần hơn với vai trò thực tế trong xã hội. Các hoạt động được ưu tiên, bao gồm phục hồi, trùng tu, tôn tạo, tư liệu hóa, truyền dạy, vinh danh nghệ nhân cũng như hoạt động quảng bá nhằm khai thác, phát huy di sản một cách bền vững. Di sản văn hóa được nhận thức đầy đủ hơn về sự cần thiết phải bảo vệ và vai trò của di sản văn hóa trong phát triển ở địa phương. Nhìn từ phía các cộng đồng chủ thể, với sự phổ biến của các diễn ngôn về “di sản văn hóa” và “phát triển”, cùng với ngày càng nhiều các di sản văn hóa được ghi danh đã giúp cho di sản văn hóa được nhìn nhận theo cách hiểu mới, từ đó giúp củng cố và gia tăng niềm tự hào của cộng đồng chủ nhân di sản về giá trị di sản mà họ đang nắm giữ và thực hành. Đến nay, Việt Nam đã có 34 di sản được UNESCO ghi danh, trong đó có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên, 16 di sản văn hóa phi vật thể và 10 di sản tư liệu. Bên cạnh đó có hơn 40.000 di tích được thống kê, 138 di tích được quốc gia đặc biệt, 3.653 di tích quốc gia, 294 bảo vật quốc gia, cùng hơn 4 triệu hiện vật của 179 bảo tàng cũng được xem là một phần của kho tàng di sản văn hóa đang được trưng bày, lưu giữ(13). Hệ thống di sản văn hóa này đã và đang đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của các địa phương có di sản. Việc khai thác nguồn lực di sản văn hóa kéo theo sự phát triển của nhiều yếu tố khác, như kết cấu hạ tầng, dịch vụ, sự mở rộng giao lưu và gia tăng các dòng chảy hàng hóa, lao động,… tạo ra sự phát triển bao trùm và hài hòa. Ngày càng nhiều các cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng sử dụng hiệu quả di sản văn hóa trong kinh doanh, tạo ra nhiều lợi nhuận, đóng góp vào sự phục hồi và phát triển bền vững di sản văn hóa trong xã hội hiện nay.

Bảy là, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 8-9-2016, của Thủ tướng Chính phủ, Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 xác định 12 lĩnh vực cần thúc đẩy phát triển, gồm: Quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; du lịch văn hóa(14). Theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến năm 2018, 12 ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đã đóng góp doanh thu hơn 8 tỷ USD, tương đương 3,61% GDP, một số thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa hoạt động hiệu quả, như điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật, sách, tranh, hàng thủ công mỹ nghệ... Chính  phủ đặt  mục  tiêu  đến năm 2030 ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam sẽ đóng góp được 7% GDP(15). Sự phát triển ngành CNVH gắn với việc gia tăng “sức mạnh mềm” văn hóa Việt Nam đặt trong bối cảnh các quốc gia đều đang gia tăng “sức mạnh mềm” văn hóa, coi đó như một khía cạnh quan trọng của sự phát triển. Vì vậy, các “nguồn lực mềm” cho phát triển CNVH được phục hồi, cấu trúc lại hoặc làm mới và được xem là “tài sản” quan trọng làm nền tảng vững chắc cho ngành CNVH ở nước ta.

Tám là, tăng cường hợp tác quốc tế về văn hóa. Điểm nổi bật trong chính sách ngoại giao của Việt Nam trong 40 năm đổi mới đất nước là đề cao ngoại giao văn hóa, đưa ngoại giao văn hóa thành trụ cột chính cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế. Trên tinh thần đó, năm 2009 được lấy là “Năm Ngoại giao văn hóa”. Triển khai các chính sách hợp tác quốc tế, ngoại giao về văn hóa, hàng loạt hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa của Việt Nam với quy mô khác nhau đã được tổ chức. Nhiều hợp tác về văn hóa với các nước và tổ chức quốc tế, các điều ước quốc tế song phương và đa phương về di sản văn hóa, quyền văn hóa, quyền tác giả,… được ký kết. Nhiều dự án hợp tác giữa nhà nghiên cứu văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý và thực hành văn hóa, nghệ thuật trong nước với các cơ quan, tổ chức văn hóa nước ngoài tại Việt Nam, các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện, tạo cơ hội giao lưu tiếp xúc đa chiều với thế giới, qua đó khẳng định được sự đa dạng, độc đáo, giàu bản sắc của văn hóa Việt Nam cũng như thúc đẩy những sáng tạo văn hóa mới.

Xuất khẩu văn hóa và nhập khẩu văn hóa ở Việt Nam được đẩy mạnh. Xuất khẩu văn hóa của nước ta đã được cải thiện rõ rệt: các đoàn nghệ thuật giao lưu với các nước trên thế giới được tăng cường nhiều hơn, ngày/tuần/tháng văn hóa Việt Nam tại các nước được tổ chức sôi nổi hơn. Hợp tác, giao lưu văn hóa giữa các thành phố, các quốc gia được tổ chức thường xuyên hơn. Giao lưu giữa các tổ chức nghệ thuật, các đoàn nghệ thuật ngày càng nhiều. Nhập khẩu văn hóa vào Việt Nam cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có nhiều loại hình văn hóa được nhập khẩu, tập trung chủ yếu là phim ảnh, thời trang, âm nhạc,... từ đó tăng cường tiếp nhận những giá trị văn hóa của thế giới, làm phong phú và giàu có thêm kho tàng văn hóa dân tộc.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cơ bản, quá trình xây dựng và phát triển văn hóa cũng bộc lộ nhiều hạn chế, thách thức:

Thứ nhất, việc xây dựng chính sách, pháp luật và thể chế về văn hóa còn nhiều hạn chế và chậm so với thực tế. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa còn thiếu đồng bộ, thiếu sự phù hợp với đặc thù của ngành và chưa thực sự đi vào thực tế cuộc sống. Một số văn bản còn thiếu tương thích giữa các ngành, thậm chí mâu thuẫn giữa ngành văn hóa với một số ngành khác. Một số lĩnh vực mới chưa được cập nhật vào các văn bản quy phạm pháp luật, gây khó khăn cho việc nhận diện và quản lý văn hóa trong bối cảnh mới (như vấn đề xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, xuất bản điện tử hay phát hành phim trên phương tiện truyền thông xã hội, văn học mạng, văn hóa ứng xử trong không gian mạng, thị trường văn hóa, vấn đề các hoạt động tín ngưỡng mới,...).

Thứ hai, xây dựng môi trường văn hóa còn nhiều bất cập. Công tác tuyên truyền, giáo dục, tôn vinh các giá trị gia đình, dòng họ, phong trào xây dựng văn hóa học đường, văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa nơi công cộng, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng và thực hiện hương ước,… đã được triển khai thực hiện nhưng còn hình thức, nặng về hoạt động phong trào, chưa đi vào thực chất và hiệu quả. Nhiều quy định trong việc cưới, việc tang và tổ chức lễ hội chưa phù hợp với lề lối, phong tục, tập quán, thậm chí mâu thuẫn với những thực hành văn hóa từ lâu đời của người dân. Nhiều thiết chế văn hóa chỉ duy trì ở hình thức mà chưa hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Chưa chú ý đúng mức đến việc bảo vệ, phát huy hệ tri thức dân gian, tri thức bản địa trong xây dựng môi trường văn hóa.

Thứ ba, văn hóa chưa thực sự đóng vai trò nền tảng, trụ cột, chưa được đầu tư xứng đáng và ngang bằng với kinh tế. Chủ trương, chính sách đúng đắn này dường như chưa thực sự đi vào thực tế. Khái niệm “văn hóa” được ghép với nhiều lĩnh vực, nhiều hiện tượng xã hội tạo nên nhiều những trường nghĩa tiêu cực, như: “văn hóa phong bì”, “văn hóa đổ lỗi”, “văn hóa xin - cho”. Sự suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, làm giàu bất chính, gian lận trong học hành, bằng cấp, chạy chức, chạy quyền, chạy danh lợi…, gây bức xúc dư luận.

Thứ tư, tình trạng “nghiệp dư hóa” các hoạt động văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên. Tác phẩm chất lượng cao ngày càng trở nên thiếu vắng, ngược lại, tình trạng “đại chúng hóa” những tác phẩm còn hạn chế về giá trị văn hóa, nghệ thuật,… trở nên phổ biến. Kinh phí đầu tư cho hoạt động nghệ thuật còn hạn hẹp khiến các đơn vị nghệ thuật gặp khó khăn trong hoạt động. Các loại hình nghệ thuật truyền thống phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tuyển chọn, đào tạo diễn viên, nghệ sĩ kế cận. Sân khấu hóa các loại hình nghệ thuật truyền thống đã trở thành xu hướng và đặt ra nhiều bất cập về không gian trình diễn, người trình diễn cũng như sự làm mới, thậm chí sáng tạo quá đà các loại hình này. Công tác nghiên cứu lý luận, phê bình nghệ thuật chưa theo kịp với thực tế phát triển và những vấn đề mới đặt ra của nền nghệ thuật nước nhà. Vấn đề giáo dục nghệ thuật trong trường phổ thông và xã hội còn nhiều bất cập. Tình trạng vi phạm bản quyền tác giả còn diễn ra phổ biến khiến cho nghệ thuật khó thu hút được nguồn lực đầu tư phát triển.

Thứ năm, cơ chế, chính sách văn hóa chưa bao quát đầy đủ vấn đề trong thực tế đa dạng của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay quy định đối với các hoạt động tín ngưỡng mới chưa cụ thể; một số vấn đề về đất đai, tài sản của các tổ chức tôn giáo, các dịch vụ tôn giáo, tín ngưỡng,… cần hoàn thiện thêm. Bên cạnh đó, công tác quản lý các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo có lúc, có nơi vẫn còn bất cập. Xu hướng thương mại hóa trong các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội ít nhiều làm suy giảm niềm tin linh thiêng của nhân dân vào các hoạt động này.

Thứ sáu, mối quan hệ giữa “phát triển” với “di sản văn hóa” chưa được hiểu một cách đầy đủ, đa chiều. “Phát triển” trong mối quan hệ với “di sản văn hóa” mới được hiểu và quan tâm đến khía cạnh phát triển kinh tế, có được lợi nhuận từ việc khai thác di sản văn hóa mà chưa quan tâm đúng mức tới các khía cạnh, vai trò khác của di sản văn hóa đối với phát triển (như tạo ra sự gắn kết xã hội, định hình bản sắc hay sự hài hòa xã hội,…). Ngành CNVH còn non trẻ, đang phát triển, thiếu sự đồng bộ, hệ thống, thiếu chuyên nghiệp, thiếu cân bằng giữa các bộ phận, hiệu quả kinh tế còn thấp. Nguồn lực cũng như cơ sở vật chất cho ngành CNVH còn hạn chế. Hệ thống sản phẩm nghèo nàn, mẫu mã chậm thay đổi, dịch vụ chất lượng thấp chưa xứng với tiềm năng sẵn có, chưa thu hút được sự quan tâm của đông đảo người tiêu dùng. Các không gian sáng tạo, sản phẩm sáng tạo, mô hình sáng tạo, giáo dục sáng tạo chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng đến chất lượng và tính cạnh tranh trên thị trường. Tình trạng vi phạm bản quyền các sản phẩm CNVH diễn ra trên phạm vi rộng, tác động lớn đến sự phát triển của ngành.

Các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa chưa được triển khai đồng bộ. Nội dung hợp tác chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật quen thuộc mà chưa được mở rộng và đa dạng loại hình. Chất lượng nguồn nhân lực hợp tác quốc tế còn hạn chế. Kinh phí cho hoạt động giao lưu hội nhập quốc tế còn khiêm tốn nên các chương trình giao lưu văn hóa do Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài chưa thực sự đặc sắc và hiệu quả. Các hoạt động xuất khẩu văn hóa thiếu bài bản và đồng bộ. Nhập khẩu văn hóa đang đặt ra nhiều thách thức...

Tác giả: UBND phường Bình Lộc, Trích TCCS

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây