Một là, nâng cao nhận thức về văn hóa, về vai trò của văn hóa là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh của sự phát triển. Nhận diện rõ và khai thác tối đa các nguồn lực văn hóa cho phát triển. Bảo vệ và làm giàu đa dạng văn hóa ở tất cả các cộng đồng, các dân tộc trên cả nước. Đẩy mạnh và triển khai các chiến lược, hành động, hoạt động cụ thể để đưa văn hóa trở thành một trụ cột trong phát triển bền vững. Đề cao văn hóa, đạo đức trong cơ cấu và vận hành hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, chống suy thoái đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,… Xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn hóa từ chức, văn hóa trọng dân, văn hóa trọng pháp, đề cao lòng tự trọng và tinh thần dám chịu trách nhiệm cá nhân trong đội ngũ lãnh đạo. Đầu tư cho văn hóa phải tương xứng với đầu tư cho kinh tế, không phát triển kinh tế bằng mọi giá, vì lợi ích kinh tế, ưu tiên cho phát triển kinh tế mà bỏ qua văn hóa hay chỉ quan tâm đến văn hóa trên phương diện hình thức. Khai thác tối đa nguồn lực văn hóa cho phát triển kinh tế; phát triển đồng bộ kinh tế, chính trị và văn hóa, nâng cao hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm kinh tế, du lịch, dịch vụ,…

Ảnh: Minh họa
Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào văn hóa. Tôn trọng đa dạng văn hóa, tôn trọng sự lựa chọn văn hóa của các dân tộc, các vùng miền. Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa. Bảo vệ, phát huy tối đa hệ tri thức dân gian, tri thức bản địa. Huy động sự tham gia hiệu quả của cả hệ thống chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng cư dân trong xây dựng môi trường văn hóa, tạo nền tảng quan trọng bảo đảm vai trò điều tiết của văn hóa, xây dựng một xã hội ổn định, hài hòa.

Ảnh: Minh họa
Ba là, xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật và thể chế văn hóa. Cần nghiên cứu kỹ tình hình thực tiễn trước khi ban hành các chính sách liên quan đến văn hóa, đồng thời có sự theo dõi, đánh giá quá trình thực thi để kịp thời điều chỉnh, bảo đảm chính sách thực sự đi vào cuộc sống. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển các ngành CNVH, công nghiệp sáng tạo trong bối cảnh mới. Song song đó, cần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc kinh doanh sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo vệ quyền tác giả với các sản phẩm văn hóa. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về thị trường văn hóa, CNVH, công nghiệp sáng tạo. Nâng cao năng lực sản xuất, sáng tạo các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có chất lượng cao tham gia vào thị trường CNVH trong nước và quốc tế. Phát triển thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa trong nước và nước ngoài, hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình tham gia và phát triển thị trường, nhất là thị trường quốc tế.

Ảnh: Minh họa
Bốn là, tăng kinh phí đầu tư cho văn hóa nói chung, hoạt động văn học, nghệ thuật nói riêng. Cần đầu tư kinh phí để bảo tồn, truyền dạy đối với một số loại hình nghệ thuật truyền thống đang có nguy cơ mai một cao. Chăm lo quyền lợi và năng lực sáng tạo của các văn nghệ sĩ, trí thức, các nghệ nhân, nâng cao tính chuyên nghiệp cho các sáng tác cũng như các hoạt động văn học, nghệ thuật. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, khuyến khích và ưu đãi các doanh nghiệp, các tổ chức, nhà tài trợ đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.
Năm là, coi trọng và đầu tư đúng mức cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ di sản văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Khắc phục quan điểm “bảo tồn có chọn lọc” tạo ra sự bất bình đẳng cho các di sản, khắc phục những mặt trái của xu hướng “sân khấu hóa”, “hành chính hóa”, “thương mại hóa”,... trong bảo vệ và phát huy di sản. Xây dựng và triển khai hiệu quả chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Chú trọng hoạt động tôn vinh, phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ, trí thức nắm giữ và có công truyền dạy, phổ biến di sản văn hóa.
Ảnh: Minh họa
Sáu là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ văn hóa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về văn hóa ngày càng sâu rộng. Hội nhập quốc tế về văn hóa không phải chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa, mà còn là sự chung tay của tất cả các ngành và cả xã hội. Khuyến khích người dân chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, mỗi người dân là một “đại sứ văn hóa”. Đẩy mạnh phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho các ngành CNVH, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các ngành CNVH gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại. Tiếp tục đề ra chính sách khuyến khích, ưu đãi các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các ngành CNVH. Đẩy mạnh xuất khẩu văn hóa trực tiếp (xuất khẩu các sản phẩm văn hóa) và gián tiếp (qua các kênh ngoại giao, xuất khẩu các sản phẩm kinh tế). Bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh văn hóa, xây dựng nền tảng văn hóa dân tộc vững chắc nhằm tạo ra “bộ lọc” tốt nhất trong tiếp nhận các luồng văn hóa nhập khẩu. Xây dựng và phát triển những sản phẩm, loại hình văn hóa đa dạng, độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa của các vùng miền, các tộc người ở Việt Nam. Xây dựng và phát triển các trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài làm cầu nối hiệu quả cho các hoạt động hợp tác, giao lưu, quảng bá văn hóa.
Hiện thực hóa đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa, công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa nền văn hóa Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn. Phát huy những thành quả đạt được, vượt qua các thách thức, tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đa dạng, giàu bản sắc, một nền văn hóa không chỉ là mục tiêu, động lực, mà còn là nền tảng tạo sức mạnh nội sinh cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Tác giả: UBND phường Bình Lộc, Trích TCCS
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập